SÔNG ĐÀ HUYỀN THOẠI

Không phải sông Thao, sông Lô, sông Chảy, sông Gâm… mà sông Đà mới thực sự là dòng sông huyền thoại vì nó gắn liền với sự hình thành, phát triển của các nhà nước cổ đại của người Việt ở phía Bắc nước ta, đặc biệt là ở vùng Tây Bắc.

Hai nhóm tộc người theo ngữ hệ Việt – Mường và Tăng – Thái cổ là chủ thể của Việt Nam thời tiền sử. Tuy ở đây còn các nhóm ngôn ngữ Mon-Khơ Me, Nam Đảo, Hán – Tạng, Mông – Dao. Tuy nhiên họ xuất hiện muộn mằn hơn hoặc với số dân ít ỏi nên chỉ là thành phần phối thuộc vào nước Âu Việt của người Tày Thái cổ hoặc nước Lạc Việt, còn gọi là nước Văn Lang của người Việt – Mường.

Người Âu Việt ở miền thượng du. Người Lạc Việt ở trung du, châu thổ sông Hồng vào đến bắc miền Trung Thanh Nghệ.

Phú Thọ trở thành Đất Tổ, cố đô của nước Văn Lang bởi nó là nơi tiếp giáp với vùng Tây Bắc, là bức phên dậu của người Lạc Việt chặn đánh mọi cuộc xâm lăng cướp phá của người Âu Việt từ vùng thượng du tràn xuống…

Người Âu Việt thường tấn công xuống Lạc Việt bằng nhiều con đường nhưng đường chính là sông Đà. Từ Sơn La, Mộc Châu họ theo sông Đà là con đường dễ nhất tiến vào kinh thành Phong Châu ở ngã ba sông Bạch Hạc, Việt Trì.

Sông Đà vì thế từng đỏ máu người Việt cổ trong tiến trình hình thành và phát triển các quốc gia cổ đại của mình để cuối cùng người Âu Việt thắng người Lạc Việt mà hợp nhất thành nhà nước Âu Lạc, nhà nước cổ đại cuối cùng ở miền Bắc,Việt Nam. Sông Đà vì thế đã chứng kiến bao sự kiện bi hùng của người Việt Cổ.

Với vị trí và vị thế ấy mà sông Đà đã sản sinh ra các anh hùng cổ đại. Họ đi vào các pho thần thoại, anh hùng ca, truyền thuyết lịch sử… sống mãi trong tâm thức dân gian của người Việt Nam ta.

Mở đầu là truyền thuyết Lạc Long Quân gặp kết duyên với bà Âu Cơ – người con gái trồng dâu nuôi tằm ở bãi Trường Sa Trung Lộ trên sông Đà thuộc huyện Thanh Thuỷ ngày nay. Đây là truyền thuyết mở đầu cốt lõi của thời mở nước. Họ để người con trưởng ở lại thành Phong Châu làm Vua Hùng thứ nhất rồi người mẹ, tức mẫu Âu Cơ đưa 49 người con lên Hiền Lương, sát Yên Bái để mở mang bờ cõi miền rừng. Hiền Lương cũng là miền đất cuối của nước Lạc Việt. Lạc Long Quân đưa 50 người con về khai phá vùng biển.

Theo thuyết âm dương thì Lạc Long Quân là chồng thuộc về dương, xuôi về vùng biển thuộc âm; Âu Cơ là vợ, thuộc âm, lên ở rừng lại thuộc dương, vợ trồng họ trong dươngâm, trong âm dương là ý nói Việt Nam ta dòng giống tiên rồng có sức phát triển mạnh mẽ và trường tồn.

Cũng ở vùng bãi Trường Sa Trung Lộ, thuộc động Lăng Xương còn sản sinh ra người anh hùng của bộ tộc đó là Tản Viên Sơn Thánh. Chính vì sông Đà với vị thế địa chính trị, vị thế địa văn hoá của mình mới sản sinh ra vị anh hùng cổ đại được dân gian thần thánh hoá mà hoá thân thành thần núi Tản Viên, gọi là Thánh Tản, một trong tứ bất tử của thần điện Việt Nam.

Chắc chắn sông Đà là nơi giao tranh dữ dội nhất của hai liên minh bộ tộc Âu Việt và Lạc Việt. Trống đồng Đông Sơn của người Lạc Việt có hình thuyền chiến với các chiến binh cầm dáo mác và những tù binh bị trói vào cọc. Thuỷ quân thuyền mảng là đội quân chủ lực của nhà nước cổ đại. Thời ấy chưa có đường bộ, núi cao, rừng rậm suối sâu đầm lầy là trở ngại chính cho các đội bộ binh, vì thế sông Đà là cửa ngõ chính mà người Lạc Việt phải chặn giữ không cho người Âu Việt tràn xuống. Phía Bắc của nước Lạc Việt thì các Vua Hùng lại dùng chính người Tày để chặn đánh người Tày từ Sơn La, Nghĩa Lộ xuống. Người Tày theo Vua Hùng chống lại người Tày của Thục đế làm chủ đôi bờ hữu ngạn và tả ngạn sông Thao, dòng sông từ Yên Bái về Việt Trì. Do vậy được đặt tên theo ngữ hệ Tày – Thái Nậm Tao dịch sang tiếng Việt là Sông Thao. Chủ bộ tộc người Tày ở đây là Ma Khê, quê quán ở làng Văn Khúc huyện Cẩm Khê. Làng Văn Khúc nay còn nhiều đình miếu thờ nơi vua Hùng gặp gỡ và lấy người con gái làng xinh đẹp là nàng Quế Anh, sau gọi là Quế Anh phu nhân. Các công chúa Tiên Dung, Ngọc Hoa đều sinh ra ở đây. Ma Khê được phong làm phụ quốc, thường hội kiến việc chính sự tại đây với Vua Hùng và thánh Tản Viên.

Tại quả gò ở của làng vào mùa nước có thể bao quát cả một vùng cửa sông Đà, Bạch Hạc, đền Hùng và phía thị xã Phú Thọ… Ma Khê lấy vợ người Tày ở chân núi Vì, sát núi Đền Hùng. Nơi ấy có hai tên: xóm Tre theo ngữ hệ Việt Mường và bản Pheo theo ngữ hệ Tày Thái. Một trong ba ngọn núi trong khu di tích Đền Hùng cũng có tên gọi theo tiếng Việt và một tên theo tiếng Tày là núi Út và núi Nỏn. Theo một thống kê của ông Lê Tượng nguyên Trưởng ban Quản lý Đền Hùng thì quanh vùng có đến 50 khu ruộng được gọi theo ngữ hệ Tày Thái cổ là na hoặc nà.

Bộ tộc Ma Khê đã giúp Vua Hùng chặn đánh giặc Thục từ thượng du xuống. Khi Thục Phán đánh thắng Vua Hùng thì cha con Ma Khê rời bỏ việc triều chính, chuyển bộ tộc sang khai phá vùng thị xã Phú Thọ ngày nay. Sau đó họ xây thành Mè (thành của người họ Ma) và ngày nay chợ thị xã Phú Thọ vẫn có tên cổ chợ Mè là vì vậy.

Lịch sử cổ đại đã xảy ra nhiều trận đánh lớn ở vùng này. Tiếc là ta chưa có chữ viết ghi lại nên chỉ dựa vào truyền thuyết và tục hèm lễ nghi của dân gian.

Truyền thuyết và di tích làng Sơn Vi cho biết nơi đây từng đã xuất hiện một vị dũng tướng của Vua Hùng là Trương Công Mộc Xanh. Khi hoá ông đã âm phù báo mộng cho Tản Viên chặn đánh và phải đuổi quân Thục lên đến Mộc Châu mới phá tan được giặc. Vùng mường Thanh Thuỷ, Thanh Sơn, Yên Lập của Phú Thọ từng xảy ra chiến tranh liên miên ở thời Hùng Vương đến nỗi họ Mường nào ngày nay cũng thờ con hoặc họ. Người ta không còn giải thích theo tô tem giáo là tổ tiên của mình, mà vì nhờ chúng che chở mà tổ tiên của họ mới thoát khỏi sự vây bắt của quân giặc. Trên núi Lưỡi Hái có loại trúc cụt ngọn, người ta giải thích hiện tượng ấy bằng một truyền thuyết phong thổ là khi giặc Thục đến Vua Hùng phải bẻ ngọn măng bắn lại nên mới đánh đuổi được quân giặc. Làng Văn Khúc nay vẫn có khu rừng gọi là rừng Cây Thuốc vì Vua Hùng thường lấy nhựa cây độc tẩm mũi tên để bắn giặc.

Có nhiều truyền thuyết vua Hùng và Tản Viên thường đánh đuổi giặc qua các làng Lưa Thượng, Lưa Hạ, Hương Cần qua Xuân Thuỷ ra sông Đà. Làng Mường Tất Thắng, nơi thánh mẫu hoài thai ra Thánh Tản và cũng là nơi Tản Viên sau khi thắng giặc đã về đây khao quân. Hội làng Mường Tất Thắng vì thế là hội vùng gồm tất cả các làng có kiên quan đến Tản Viên Sơn Thánh.

Truyền thuyết vùng sông Đà về Vua Hùng và Tản Viên Sơn Thánh nếu có nói đến đánh giặc cũng chỉ là giặc chung chung, chủ yếu tập trung vào chuyện tình lãng mạn và bi hùng giữa bộ ba Sơn Tinh, Thuỷ Tinh và công chúa Ngọc Hoa. Nào là Sơn Tinh đón vợ về núi Tản bị Thuỷ Tinh chặn đánh ở làng Chu Hoá. Rồi Sơn Tinh đuổi Thuỷ Tinh qua Lời, Trịnh ra cửa sông Đà. Thuỷ Tinh bị Sơn Tinh đuổi đánh trận cuối cùng ở Ao Vua dưới chân núi Tản. Rồi chuyện Sơn Tinh dạy dân đắp đê, người còn vác cả quả núi từ Ba Vì ra bờ sông Đà…

Những chuyện Sơn Tinh đánh giặc Thục ở dòng sông Đà đã được trầm tích cho khuất lấp trong các truyền thuyết liên quan đến Thuỷ Tinh. Nghề canh nông với công việc trị thuỷ mới là mối quan tâm hàng đầu của người Việt cổ. Giặc nước mới là điều người ta quan tâm hơn giặc Thục. Giặc Thục sau khi đã thống nhất sơn hà thì đối với người Việt họ không là giặc nữa, mà cũng là anh em, cùng tông giống nhà Hùng. Mối quan tâm của dân Âu Lạc gồm dân Âu và dân Lạc từ đó là với giặc Triệu Đà và các thế lực phong kiến phía Bắc luôn lăm le xâm chiếm nước ta. Vì thế mới có truyền thuyết Thục Phán lập cột đá thề trên núi Nghĩa Lĩnh nguyện đời đời tôn kính Hùng Vương.

Và đền Lăng Xương theo truyền thuyết cũng do Thục Phán dựng lên để tạ ơn Thánh Mẫu đã sản sinh ra vị anh hùng cho dân tộc và cũng để thờ chính người anh hùng ấy. Đó là Tản Viên Sơn Thánh, người đã có công phân giải, giúp đỡ để Vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán. Tất cả mọi hận thù Hùng, Thục trước đây đã được hoá giải. Người Việt coi đấy là chuyện nội bộ, mâu thuẫn anh em, vì chồng bát có khi xô vì thế cần quên đi. Nhưng lịch sử ấy vẫn được dân gian gửi gắm, ký thác trong các truyền thuyết về Tản Viên. Dòng sông Đà mãi mãi vang vọng những truyền thuyết tôn vinh Tản Viên là vị anh hùng của bộ tộc với những chiến công đầy tính thần thoại mà công tích về trận mạc được trầm tích trong các công tích về văn hoá để dòng sông ít vương lại những thanh âm sắc màu của gươm dáo với cảnh đầu rơi máu chảy mà chỉ ngân lên những chuyện tìnhv ừa bi tráng vừa lãng mạn. Sông Đà vì thế càng xứng đáng với tên gọi là dòng sông huyền thoại.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *