TRẨY HỘI LÀNG VẦY

Dân gian xưa thường thế tục hóa các địa danh nên vây mới gọi là vầy. Ở giai đoạn thứ nhất trong tiến trình phát triển làng Việt thì các điểm tụ cư của người Việt cổ chưa gọi là làng, thôn, hương, giáp mà gọi là Kẻ. Kẻ Vầy Kẻ Vây. Từ Hán Việt gọi VâyVi vì thế tên chữ của làng này là Sơn Vi, nghĩa là làng có núi vây quanh. Làng Sơn Vi ở cách Đền Hùng 4km đường chim bay vẫn ngự trên những quả đồi. Hồ nước chạy quanh làng quanh xóm, núi mờ xanh vây bọc bốn phía. Xa xưa từ kinh thành Thăng Long muốn bằng đường bộ lên biên giới Trung Quốc ngả Vân Nam duy nhất có con đường Thiên Lý chạy qua làng Vầy. Làng Vầy là chiến địa giữ kinh thành Phong Châu ngăn giặc Thục từ Tây Bắc xuống. Sau này nơi đây xảy ra nhiều trận chiến giữa ta và quân giặc tràn xuống từ Vân Nam.

 

Đền miếu làng Vầy vì thế đều thờ các danh thần danh tướng thời Hùng Vương. Lễ hội làng Vầy là dịp kỷ niệm các vị tướng thời cổ đại. Hội phết làng Vầy xưa nay vẫn nổi tiếng không chỉ thu hút dân quanh vùng hạ huyện Lâm Thao mà có cả người từ Tam Nông, Sơn Tây sang, Vĩnh Phúc lên, Yên Bái, Tuyên Quang về.

Những năm tròn, hội Đền Hùng do nhà nước tổ chức, xã Sơn Vi lại mở hội chợ truyền thống cho ta được về với cảnh chợ quê xưa từ những cô thôn nữ mặc áo mớ ba mớ bảy thắt xà tích, bao xanh bao đỏ, váy thâm nhấn bùn, áo nâu non, yếm đỏ yếm xanh khăn chít mỏ quạ… chợ làng bán hàng của làng. Kia là hàng ủ ấm, xưa nổi tiếng bán đi cả nước. Rồi hàng mây tre đan: giường, chõng tre, từ ống điếu cày, bó đũa, lờ, nắn, giỏ, chúm đánh tôm cua đến gọng bè, sào chũm… thứ gì cũng có bán. Lại hàng bún, bánh đúc, bánh hòn, bánh nẳng, chè lam, bánh uôi… người Sơn Vi xưa còn có nghề thợ ngõa, mộc, rèn và dệt vải. Từ sợi bông, tơ tằm rồi may gối, chăn mùng chất bán ở góc chợ làng. Hội chợ Sơn Vi lại có ông đồ ngồi “bán” chữ. Trẻ em mua tò te, mua sách và mua tranh… ngô, lúa, đậu, lạc, vừng, dưa bở, dưa gang, dưa chuột bày không xa hàng ốc, hến, tôm, cá, lươn, ếch… là hình ảnh sống động của các phiên chợ Vầy xưa được tái hiện nhiều phần ở hội chợ thời nay.

Nhìn dòng người từ Đền Hùng đổ về hội chợ Sơn Vi lại cho ta bao hoài niệm. Ta như thấy đoàn binh tướng của Tản Viên sau thắng trận về bái yết Đền Hùng rồi từ đó qua làng Vầy để vui vầy mở hội khao quân. Theo truyền thuyết thì thời cổ đại Sơn Vi đã sản sinh ra vị tướng tài cho Hùng Duệ Vương đó là Trương Công Mộc Xanh nay được thờ ở đền miếu trong làng.

Tương truyền mẹ ông một lần qua rừng Cấm, nghỉ dưới bóng cây si đại thụ. Bà mơ màng thấy có con rắn vàng cuốn quanh người. Sau đấy bà về có thai sinh ra Trương Công Mộc Xanh. Bố mẹ Mộc Xanh mất sớm, ông phải ở với người bác ruột. Năm ông 13 tuổi thì vua Hùng Duệ Vương đi săn qua làng Vầy thấy ông khỏe mạnh, khôi ngô tuấn tú bèn đưa về kinh nuôi cho ăn học. Lớn lên ông đi đánh giặc lập công lớn được vua Hùng phong thưởng.

Một lần ông đánh giặc Thục ở quê hương làng Vầy bị chúng vây hãm, được Tản Viên kéo quân về giải cứu. Giặc chạy tản mát khắp nơi. Đại quân của chúng chạy đến làng Mè thì bị tiêu diệt. Sau này về già Trương Công Mộc Xanh hóa ở làng Vầy. Một lần quân tướng Tản Viên đánh giặc qua làng Vầy được Trương Công Mộc Xanh âm phù và báo mộng cho biết phải đánh đuổi giặc Thục lên đến Mộc Châu Sơn La mới tiêu diệt được chúng. Sau chiến thắng trở về Sơn Tinh sức cho dân làng Vầy tôn tạo mở rộng đền miếu thờ Trương Công Mộc Xanh và phối thờ các tướng khác cùng thời.

Ngoài miếu rừng Cấm và đình làng là nơi thờ thần thành hoàng làng thì Sơn Vi còn có khu miếu Phường là nơi thờ vọng các vị thành hoàng Lục Vương Lục vị đại thần mà Trương Công Mộc Xanh và các vị thần đều sinh hóa ở làng.

Miếu Phường ở trong khuôn viên rộng rợp bóng cây đại thụ. Những cây lụ cao to, vào mùa thu quả chín đầy cành rụng đầy vườn miếu. Quả lụ cùng họ quả dọc có vị chua, nếu đem nướng giằm ra nấu canh cá chua là món ăn khoái khẩu của người vùng đồi. Quả lụ quý như thế nhưng ở đây là của nhà thánh nên không một ai xâm phạm. Rừng miếu Phường cũng như miếu rừng Cấm lại có vẻ âm âm u tịch, dù sờ sờ trước mắt nhưng là cõi thiêng liêng của thần linh nên thường ngày chẳng ai lui tới trừ ông từ ra vào thắp hương và quét dọn.

Xưa kia tại miếu Phường cứ ngày 7 tháng giêng hàng năm dân làng Sơn Vi lại có tục cầu hèm. Ngày lễ này mỗi giáp trong làng lại đem một mâm xôi phố và một con lợn sống ra để cầu cúng. Trước miếu về phía đông đóng một cái giàn dài. Trên giàn đặt 18 mâm xôi phố của 18 giáp. Dưới mâm xôi của giáp nào treo thúng thịt lợn sống của giáp ấy. Xôi phố là xôi được đóng trong khuôn, trong lồng vuông vức to như viên gạch xỉ thời nay.

Các giáp khiêng lợn sống đến miếu. Ông từ dùng búa đập vào đầu 18 con lợn xong các giáp khiêng lợn xuống giếng đun nước làm lông mổ lấy sỏ và thịt sống để trong thúng sạch đem lên cúng miếu. Khi ông chủ tế đứng cúng, có người đọc chúc, đàn anh trong làng đứng quanh miếu, ai đứng đâu vái đấy như là vái tứ phương. Tục này để tưởng niệm tích quân tướng Tản Viên ở rừng Cấm làng Vầy chưa kịp ăn uống thì tin báo có giặc. Cơm vừa nấu được nắm lại, lợn vừa mổ  được đem thịt đi ăn sống no bụng để đánh giặc. Xôi đóng phố là tượng trưng cho cơm nắm. Cúng xong, các giáp đem lễ về nhà ông đăng cai của giáp mình làm cỗ, ăn uống.

Hội chính của làng Sơn Vi xưa được mở ra vào 3 ngày từ 3, 4, 5 tháng giêng, cúng tế ở miếu rừng Cấm, đình làng xong thì rước từ đình ra cung quán để  mở hội vật cầu, đánh phết. Cung quán là ngôi nhà dựng tạm mỗi năm ở khu đồng Dưa, nhưng dưa đã hết vụ. Trước cung quán người ta đào cái hố tròn đứng đến ngực gọi là đào lò cầu. Làng có 3 quả cầu tròn bằng gỗ lim đường kính ba mươi phân tây. Ba quả cầu được để ở đình làng.

Nghi thức tổ chức vật cầu trong hai ngày mồng ba và bốn giống nhau. Tất cả trai đinh của làng cởi trần đóng khổ tham gia vật cầu, trước đó họ phải kiêng nằm với vợ, kiêng ăn hành, mắm tôm, mắm tép. Mười tám giáp trong làng được chia ra hai phe, gọi là Nội thôn đấu với Ngoại thôn. Bên nào cướp được quả cầu về phe mình là thắng, được hưởng nhiều may mắn trong năm.

Đầu tiên ông chủ tế vác từ đình ra lò cầu quả cầu thứ nhất. Cùng đi có người reo hò hòa với kèn trống. Vác cầu ra đứng cạnh kiệu, trước nhà công quản, ông chủ tế có lời: “Thưa đàn anh đôi bên Nội, Ngoại, nhờ thần thánh năm nay tôi được làm chủ tế. Xin vật cầu để đàn anh hai bên cùng chơi. Trước hết tôi nhờ đàn anh reo cho một hồi. Tôi xin reo 3 tiếng trước “Huế hù hù! Huế hù hù! Huế hù hù” rồi vứt quả cầu xuống hố. Mọi người vừa reo to “Hú huề huề! Hú huề huề! Hú huề huề” rồi cùng lăn xả vào, xô đẩy nhau, yểm trợ cho người của phe mình cố đưa được quả cầu về đích trong khi đối phương lăn vào quyết cướp lấy quả cầu.

Tan một hiệp dứt tiếng trống, tiếng hò reo thì từ trong đình ông Tây xướng vác ra quả cầu thứ hai. Mọi nghi thức diễn ra như khi vật quả cầu thứ nhất. Vật xong quả cầu thứ hai, ông Đông xướng lại vác quả cầu thứ ba từ đình làng ra lò cầu. Nhưng ngày thứ 3 tức mồng 5 tháng giêng thì nghi thức vật cầu được đảo lại. Mở đầu là vật quả cầu của ông Tây xướng, sau đó đến vật quả cầu của ông Đông xướng. Gọi là quả cầu ăn chơi vì ông Đông xướng vác quả cầu này đi chơi các làng bên. Khi đi có tàn lọng che, cùng trống chiêng âm nhạc vang rền, dân làng và người xem nối dài như đám rước trình nghề tứ dân chi nghiệp. Ông Đông xướng vứt quả cầu xuống sông xuống hồ cho trai đinh nhảy xuống cướp. Tầm chiều người ta mới đưa đón quả cầu này về.

Quả cầu thứ 3 của hôm mồng 5 còn gọi là quả cầu phết. Hôm ấy 18 giáp cử 18 người cầm gậy ra để đánh phết. Đầu gậy tre để củ thành cái ngoắc gọi là gậy phết. Họ thi nhau ngoắc quả cầu phết lên khỏi lò phết. Đó  là lúc đã thấy có gió tây bắc thổi bay lá cờ đuôi nheo buộc trên ngọn cây gạo cổ thụ mọc giữa đồng Dưa. Cờ bay về phía núi Ba Vì, dân gian quan niệm trời đã nổi gió đưa Tản Viên về núi. Sân làng đánh quả phết thứ 3 này là để đưa tiễn thánh Tản Viên. Mười tám gậy phết cùng nhau ngoắc quả phết về cội cây gạo. Đến nơi hiệu lệnh nổi lên bằng tràng pháo cối nổ vang rền.

Khi Sơn vi nổi pháo lệnh thì dân làng Á, Bản Nguyên chầu trực trước ở miếu Bo, hò reo để dân bên Trúc Phê, Hưng Hóa bắt đầu giã bánh dày để cúng thần. Dân gian trong vùng vì thế mới có câu:

“Sơn Vi bắn lệnh”

“Á há miệng”

“Trúc Phê đâm”

Hay:     “ Bên Á há miệng, bên này chày buông”

Những ngày làng Vầy mở hội, dọc đường làng hàng quán mọc lên san sát cho dân trảy hội bán mua.

Sơn Vi là làng cổ. Ở đây cuối thời đồ đá cũ hơn vạn năm đã có những nhóm người nguyên thủy sinh sống. Họ sống trên đồi gò nền phù xa cổ trên thềm sông suối, ghè bổ cuội lấy cạnh sắc để chặt, băm, cắt, nạo. Họ chưa biết canh tác mà chỉ sống bằng săn bắt hái lượm tự nhiên. Làng Sơn Vi có nhiều di tích văn hóa đồ đá cũ điển hình là ở Gò Vườn Sậu, khai quật được hàng ngàn hiện vật rồi cùng với hàng trăm di tích khác ở Việt Bắc, Tây Bắc, miền Trung, Tây Nguyên đủ khẳng định đây là một nền văn hóa khác với văn hóa Hòa Bình và trước văn hóa Hòa Bình.

Đến 4000 năm trước công nguyên lại thấy xuất hiện những nhóm người tiền sử đến sống ở Sơn Vi.

Sơn Vi, Kẻ Vầy là làng cổ giàu có truyền thống văn hóa nên người dân ở đây luôn vươn lên phát triển để làng có diện mạo đẹp điển hình ở vùng đất Tổ. Chưa đâu có đường làng ngõ xóm sạch đẹp như ở Sơn Vi. Từ năm 2000 Sơn Vi đã thực hiện cứng hóa hơn 20 km đường giao thông nông thôn, nay chỉ còn 4km đường hẻm thưa nhà, trong đó có hơn 1km đường lát gạch, còn lại đều là đường nhựa và bê tông. Đường nội đồng đã mở rộng đổ cấp phối đủ cho xe tải nhỏ và máy móc công nông đi lại hoạt động. 90% diện tích đồng làng đã sử dụng máy móc trong khâu làm đất. Sơn Vi là xã đứng đầu trong huyện nghề kinh doanh nuôi trồng thủy sản. Các nghề truyền thống như làm ấm ủ, dệt may, mộc nề… vẫn đang được bảo tồn.

Sơn Vi từng là đất học, thời hậu Lê có ông Nguyễn Đinh Tướng đỗ tiến sỹ. Nay có nhiều người học cao cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ. Nhiều người làm báo có tiếng ở cả nước.

Về trẩy hội làng Sơn Vi ta sẽ thấy quá khứ xa xưa ngàn vạn năm nối liền với hiện tại, làm tương lai như bừng sáng lên trước mắt. Mùa xuân này ta lại về trẩy hội làng Vầy.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *