TRUYỀN THUYẾT VỀ ĐẶT MỘ CHẤN HƯNG DÒNG HỌ NGUYỄN TIÊN ĐIỀN

                                                                                                Trần Đình Tuấn

Người xưa tin Phong thuỷ, Địa lý. Hễ có dòng họ nào làm nên cơ nghiệp lớn thì cho là nắm xương của tiền nhân đã được để tại ngôi đất kiết phát đến bá, vương, hầu hay đa đinh, đa tài. Hầu như quyển phả họ nào cũng có mục chép về các giai thoại đặt huyệt mộ hoặc nhờ thầy Phong thuỷ đặt mộ. Chẳng hạn truyện họ Trần được ngôi mộ kết phát được phả họ Đặng và các sách như Công Dư Tiệp Ký – 1736 của Vũ Phương Đề … chép về việc này. Đại ý rằng: có thầy Phong thuỷ giúp nhà Nguyễn Cố tìm ngôi đất quý đặt mộ trở nên giàu có nhưng không muốn trả ơn nên tìm cách hãm hại thầy, chuốc rượu say đem bỏ rọ cho trôi sông. Cha con Trần Hấp, Trần Lý vớt được trên sông Hồng Giang (thuộc Hưng Yên) nên được hậu báo. Thầy Phong thuỷ tạ ơn cứu mạng bèn dành cho kiểu đất quý, phát đến đế vương…

Vậy, nhưng giai thoại trên có phải chỉ là những huyền tích được thêu dệt để đề cao Phong thuỷ học hay ngược lại chê bai Phong thuỷ thì nói kiểu: “Phải có hồng phúc mới kham được đất tốt: Tiên tích đức, hậu tầm long”, nghĩa là làm nhiều việc thiện thì tự nhiên trời cho cát địa, cần chi phải cầu cạnh.

♠ ♠ ♠ ♠ ♠

Chúng ta sẽ thấy rõ giá trị Phong thuỷ học khi khảo cứu gia phả và các giai thoại của họ Nguyễn Tiên Điền với những tư liệu được ghi chép tỉ mỉ về vấn đề này.

Xưa, Hà Tĩnh là nơi địa đầu của nước Đại Việt, giáp với vương quốc Champa. Dân ở miền biên viễn nghèo khổ lại phải có trách nhiệm giữ nước và dựng nước cho quốc gia tạo nên lớp người chịu khó mà không chịu nhục: Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục / Thì mới biết cuộc đời răng là nhục là vinh.

Hà Tĩnh là nơi tiếp nhận nhiều dòng họ của các mệnh quan của triều đình, của những người bị ghép tội phản nghịch, bị tù đày, hay trốn tránh… và trở thành những dòng họ khoa bảng nổi tiếng làm chỗ dựa vững chắc cho triều đình. Thời loạn họ về đây nương náu, học hành để khởi nghiệp, thời bình họ ra Thăng Long phò vua giúp nước.

Họ Nguyễn Tiên Điền được khởi từ Nam Dương công Nguyễn Nhiệm có nguyên quán ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam. (Thuỷ tổ là Nguyễn Doãn Địch. Ông nội là Nguyễn Thiến, trạng nguyên năm Nhâm Thìn, Mạc Đại Chính (1532)).

Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm đã bị quân Lê – Trịnh tập kích ở Lãnh Giang năm Tân Sửu, niên hiệu Hoằng Định thứ 2 (1601), ông trốn về ẩn cư tại Tiên Điền.

Xét từ đời Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm qua bốn đời đầu, chưa có gì phấn phát, nổi bật. Đến Lĩnh Nam công Nguyễn Quỳnh đời thứ 5 (ông nội Nguyễn Du), dường như sự tích lũy âm phúc, dương công đã đến độ viên mãn nên chuyển võ sang văn, ông đi thi Hương trúng tam trường rồi ở nhà lo phụng thờ tổ tiên, đọc sách, dạy dỗ con cái và sau có ra làm môn khách cho trấn tướng Nghệ An. Bắt đầu từ đời con của Lĩnh Nam công 2

Nguyễn Quỳnh, đời thứ 6, thì dòng họ Nguyễn Tiên Điền phát đại khoa thực sự. Nguyễn Quỳnh có 6 người con trai, thì ba người đậu đạt. Trong đó, Nguyễn Huệ đậu tiến sĩ, Nguyễn Nghiễm đậu hoàng giáp, Nguyễn Trọng đậu cử nhân. Con cháu Nguyễn Nghiễm nhiều người phát đạt khoa danh, làm quan to hoặc nổi tiếng trong giới bút mực đương thời.

Nhìn chung, dưới thời Lê Trịnh, họ Nguyễn Tiên Điền có khoảng 40 người làm quan nhưng nổi tiếng nhất vẫn hai cha con Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Khản, cả hai đều đỗ đại khoa và cùng làm quan to trong triều, từng giữ cương vị nhất nhì trong chính phủ Lê – Trịnh. Trải hai triều Lê – Trịnh và Nguyễn, những vị có tên tuổi nhất là: Lĩnh Nam Công Nguyễn Quỳnh (tú tài), Nguyễn Huệ (tiến sĩ), Nguyễn Nghiễm (hoàng giáp), Nguyễn Khản (tiến sĩ), Nguyễn Điều (đậu tứ trường thi Hội, tức phó bảng), Nguyễn Nễ, Nguyễn Du, Nguyễn Thiện và Nguyễn Hành (2 anh em và là 2 nhà thơ nổi tiếng)… Đặc biệt, trong An Nam ngũ tuyệt thời nhà Nguyễn thì họ Nguyễn Tiên Điền có hai chú cháu: Nguyễn Du và Nguyễn Hành (con Nguyễn Điều).

Xét về vị thế, công lao đối với dòng họ, Nguyễn Doãn Địch là người khai khoa, Nguyễn Thiến là người hiển đạt cao nhất về khoa cử, Nguyễn Nhiệm là người phục sinh và duy trì dòng giống, Nguyễn Quỳnh là người phục hưng truyền thống văn hiến dòng họ và hai bố con Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Du là những người làm rạng rỡ tông môn.

Phong sử có câu nói về họ Nguyễn Tiên Điền: Bao giờ Ngàn Hống hết cây. Sông Rum hết nước họ này hết quan”.

VAI TRÒ PHỤC HƯNG TRUYỀN THỐNG DÒNG HỌ CỦA NGUYỄN QUỲNH VÀ GIAI THOẠI PHONG THUỶ

Thái tể Nhuận Quận công (tức Lĩnh Nam phong công) Nguyễn Quỳnh (1675 – 1735)

Lúc trẻ đi học, văn chương nổi tiếng. Năm Quý Dậu, niên hiệu Chính Hoà, (1693) ông 19 tuổi, thi Hương trúng Tam trường. Năm Mậu Dần, 24 tuổi, có tang cha nên không đi thi.

Ông ở nhà đọc các sách thiên văn, địa lý, lịch sử, sách thuốc, sách bói và nghiên cứu, biên chép lại rất tinh tường, phân tích những chỗ huyền bí để dạy dỗ các con cho đến lúc thành tài.

Ông ra Bắc chơi, gặp một người Trung Quốc quê ở Quảng Tây tên là Ngô Cảnh Phượng (dòng dõi Ngô Cảnh Loan – nhà địa lý thời Tống), từ đảo Hải Nam bị gió bão giạt sang ta, được ông cưu mang. Biết Cảnh Phượng là dòng dõi con nhà địa lý học (Phong thủy) nên tôm làm bậc thầy. Cảm ơn đức của ông, Cảnh Phượng dạy ông biết các bí quyết về địa lý. Sau khi Ngô về nước, ông cũng trở về quê nhà, dời phần mộ tổ tiên đến táng ở các xứ Võ Vi, Văn Sự, Đồng Cùng đều là nơi “ phát tích”. Về sau, ông đem việc gặp gỡ ấy và các điều bí truyền chép thành sách gọi là Đại hiếu chân kinh.

Việc dời mộ ông nội của ông (Đời thứ ba Đề đốc Phương Trạch hầu Nguyễn Ổn) về xứ Văn Sự – tên cũ xứ này là Ao Vét, thuộc địa phận giáp Đông. Vị trí mộ ông Bắc ghé Tây, thuộc cuộc đất “Nhâm long đông yết nhập thủ, chuyển cấn” (Bắc – Đông Bắc), kết thành thế “Hạc phi quy lộng thừa cấn khởi nhập yêu”, dựng theo Ất sơn Tân hướng (đầu về phía Đông Nam, ghé Nam) – nhìn về hướng tây Bắc (ghé Bắc). Dùng 3

Tân Dậu Tân Mạo, phân kim, phân theo Tân hướng, Đinh Dậu, Đinh Mão phân kim, nghênh tân thuỷ triều đường, quy Khôn nhi khứ, vi mộc cục suy hướng, Tử khẩu hợp Tam kỳ Tham lang Thuỷ cách. Tân hướng tân Thuỷ nhập Khôn lễ, hợp với Lộc Mã thượng ngưỡng nhai cách, Nhâm Tân Khôn lễ – Theo sách, đây là cách: “ Nhất cử đăng khoa danh quán thế” (chỉ một lần đi thi là đậu đạt, tiếng tăm lừng lẫy trên đời)

Năm Ất Dậu, niên hiệu Lê Vĩnh Thịnh (1705), tháng Mậu Dần (tháng Giêng) ngày Canh Dần, giờ Canh Dần rước tôn phần về đây. Dùng vữa tam hợp xây huyệt.

Vợ chính thất là bà Lê Thị Liên, người Đông giáp, sinh vào năm thứ 3 Vĩnh Tộ (Tân Dậu – 1621); tạ thế ngày 16/5 năm Đinh Sửu niên hiệu Chính Hoà thứ 18 (1697) thọ 77 tuổi, hiệu Đoan Dung. Hợp táng tại Văn Sự (về phía bên phải, cách năm tấc, theo hướng cụ ông).

Các nhà Nho Việt Nam đều thuộc điển tích từ đời nhà Tống bên Trung Quốc, chuyện Vương Hựu tự tay trồng ba cây hòe trong sân nhà và nói rằng: “Con cháu ta sau này sẽ có đứa làm đến chức Tam công”. Quả nhiên về sau, con của Vương Hựu là Vương Đán làm đến Tam công, nên từ “sân hòe” thường được dùng để chỉ gia đình có người đỗ đạt.

Theo giai thoại, Nguyễn Quỳnh sau khi dời mộ tổ tiên đã trồng 3 cây hy vọng con cái làm nên nghiệp lớn và làm chỗ để buộc ngựa khi con cái làm quan. Hiện nay 1 cây đã chết, còn 2 cây đã khoảng 300 năm tuổi vẫn còn trong khu bảo tang Nguyễn Du ((Tục trồng cây lưu niệm đã có ở nước ta từ rất lâu, được ghi lại trong sử sách từ thời Lý, qua thời Lê, đến thời Nguyễn vẫn còn).

Năm 1734, ông nghiên cứu kinh Dịch soạn ra bộ Dịch kinh quyết nghi gồm 15 quyển cùng với hai quyển Đại hiếu chân kinh Từ ấu chân thuyên truyền lại cho đời. Vợ chính thất là bà Phan Thị Minh sinh năm 1673, sinh hạ được 3 trai là: Nguyễn Huệ, Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Trọng và 2 gái là: Thị Thanh (1702) và Thị Bính (1713). Tính bà ôn hậu, cần kiệm, siêng năng sửa sang việc nhà. Con cái làm nên đều nhờ công nội trợ, chăm sóc của bà. Trong cuốn Nghi Xuân địa chí, tú tài Lê Văn Diễn đã chép về bà như sau: “ Bà Minh có tính thương người, hay cưu mang giúp người cho nên trong làng xóm đều cảm phục”.

Sau khi con cái ông bà thành danh, người khách (Ngô Cảnh Phượng) trở lại yết kiến cụ ông và hỏi rằng: “Các con của ngài đều thành đại danh. Ngài làm điều ân đức gì mà được như thế?” Cụ đáp: “Xưa nay, tôi vốn là kẻ phiêu lưu (ý nói là người ăn chơi tài tử), làm gì mà có đức? Có đức chăng là ở mẹ chúng nó đó thôi!”

Ngày 28 tháng 5 năm Ất Mão, niên hiệu Vĩnh Hựu nguyên niên, đời Lê Ý Tông (1735), ông qua đời ở trấn sở, thọ 61 tuổi. Mộ táng ở đồng Thung, địa phận xã Mỹ Dương (Nghi Xuân), thừa Mão nhập huyệt, Tỵ sơn Hợi hướng (Đông Nam ghé Nam- Tây Bắc ghé Bắc), Tân Hợi – Tân Tỵ phân kim, do người cháu là Nguyễn Khản cát táng. 4

Sau khi cụ ông mất bà đau xót cảm bệnh mà mất ngày 15-7-1735 ( hưởng thọ 63 tuổi), hiệu là Đoan Từ. Mộ táng tại Cồn Quang thuộc địa phận xã Phan Xá, thừa Hợi nhập thủ, Đinh sơn Quý hướng (hướng Nam ghé Tây Nam – Bắc nghé Đông Bắc) do con là Nhã Hiên công (Nguyễn Trọng) cát táng và xây huyệt bằng vữa tam hợp.

Như vậy, có thể thấy những bằng chứng khá chi tiết được ghi chép tỉ mỉ, được đặc biệt lưu tâm về vấn đề đặt huyệt mộ theo Phong thuỷ của dòng họ Nguyễn Tiên Điền được chép cẩn thận trong gia phả. Đó có thể là một tài liệu quý cho Viện Nghiên cứu Kiến trúc Phong thuỷ nghiên cứu học hỏi từ chính nhà Kinh Dịch và Phong thuỷ học Nguyễn Quỳnh, một dòng tộc Nguyễn Tiên Điền danh giá.

– Tài liệu tham khảo:

Sách Họ Nguyễn Tiên Điền qua gia phả, sử sách và tư liệu điền dã do Phạm Quang Ái biên soạn – NXB Nghệ An – 2011

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *